PGS,
TS Vũ Đình Hòe
Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Cống
hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là rất to lớn. Bài viết này xin
chỉ tập trung vào chủ đề : Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập
dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất
Tổ quốc.
Trong
lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập không
phải là đặc điểm riêng có của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc
như dân tộc Việt Nam, phải thường xuyên đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù
mạnh hơn gấp bội để giành lại quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Quyền thiêng liêng này đã được
Lý Thường Kiệt khẳng định từ thế kỷ XI và Nguyễn Trãi viết trong Bình
Ngô đại cáo vào thế kỷ XV.
Vào
nửa sau của thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia ở Á
Phi và Mỹ la tinh đã bị chủ nghĩa tư bản Phương Tây xâm chiếm, nước Việt Nam bị
đế quốc Pháp xâm chiếm và bị chia cắt thành ba miền với ba chế độ cai trị
khác nhau. Độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc đã trở thành khát vọng, thành
ước mơ cháy bỏng hun đúc thành tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam.
Không cam chịu nô lệ, từ Nam ra Bắc lớp lớp văn thân sĩ phu và những người yêu
nước đã đứng lên chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, song
tất cả các phong trào đấu tranh, khởi nghĩa đó đều bị thất bại vì chưa có đường
lối giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc đúng đắn.
Cùng
chung ước mơ, khát vọng về độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đã
sớm nhận ra những hạn chế trong đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc của
các thế hệ đi trước và “không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”[1].
Hồ Chí Minh quyết định sang Phương Tây, sang các nước tư bản phát triển như
Pháp, Anh và các nước khác để tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước. Trải qua gần 10 năm đầy gian truân và thử thách, gắn bó
chặt chẽ với phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh
đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã tìm thấy con đường cứu nước và giải
phóng dân tộc duy nhất đúng đắn. Người viết : “Luận cương của Lênin làm
cho cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao ! Tôi
vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như
đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ ! Đây là
cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[2].
Ý chí giành lại độc lập dân tộc, tự do cho đồng bào đã chi phối toàn bộ trong
tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.
Hồ
Chí Minh khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản; “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế
giới khỏi ách nô lệ”[3].
Vì thế Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập
Quốc tế III - Quốc tế cộng sản do V.I.Lênin sáng lập (3-1919). Tháng 12-1920 Hồ
Chí Minh trở thành một trong những người thành lập Đảng Cộng sản Pháp, bước
ngoặt trong quá trình phát triển tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người. Để giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường
cách mạng vô sản, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã khẳng
định, cách mạng muốn thắng lợi trước hết cần có đảng cách mạng. Đảng cách mạng
phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”, phải gắn bó máu thịt với nhân dân,
phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng của mình về nước, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản
ở Việt Nam. Các bài viết trên báo Le Paria (1922), báo Thanh
niên (1925), báo L’Humanité, La Vieouvrière, Thông
tin quốc tế… Các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường
cách mệnh (1927)… của Người là những công cụ quan trọng trong việc
giác ngộ những người Việt Nam yêu nước chuyển từ yêu nước chân chính truyền
thống sang yêu nước theo lập trường cách mạng vô sản.
Trước
tình hình ở Đông Dương có các tổ chức cộng sản xuất hiện, thực hiện Nghị quyết
của Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất ba
tổ chức: Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (9-1929) và
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930) thành Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930)
và thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương
trình tóm tắt,Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ
Chí Minh soạn thảo. Ngay từ khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, phân tích đúng đắn
đặc điểm của xã hội, sắp xếp đúng vị trí của từng giai cấp, tầng lớp và các cá
nhân trong lực lượng cách mạng, tạo điều kiện bảo đảm cho Đảng vừa ra đời đã
nắm trọn quyền lãnh đạo cách mạng. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng là Người luôn giành cho yếu tố dân tộc một vị trí đặc biệt. Theo đó trong
tiến trình cách mạng, nhất là ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi
chuẩn bị Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh thường
nhấn mạnh quyền lợi dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết. Nghị
quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5-1941) do Hồ Chí Minh chủ
trì đã khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt
dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không
giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho
toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại
được”4.
Tại
lễ Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế
giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một
nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”5.
Trong
quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước,
Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đoàn kết được tất cả các lực lượng trong nước, tranh
thủ được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân
Pháp, nhân dân Mỹ, đồng thời Người cũng vạch rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc của kẻ
thù và quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong việc giành độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước tiến len chủ nghĩa xã hội. Trước hành động leo thang xâm lược hết
sức tàn bạo của đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng có thể đưa 50 vạn
quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền
Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền
Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chiến tranh có thể kéo dài 5
năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí
nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì
quí hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước
ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”6.
Trong
ngày đầu năm 1969, Hồ Chí Minh đã nêu rõ giải pháp để kết thúc cuộc chiến tranh
chống Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng trong bài thơ chúc Tết 1969:
…Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,
Tiến lên chiến sĩ, đồng bào,
Bắc, Nam xum họp, xuân nào, vui hơn!
Và
niềm tin chiến thắng ấy đã được Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc của
Người.
Khi
Hồ Chí Minh đi xa, miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất,
song bằng sáng tạo lý luận và hoạt động lãnh đạo thực tiễn của Người
những chiến công giải phóng vĩ đại nhất của dân tộc ta: Cách mạng Tháng
Tám (1945); chiến thắng Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu tháng
(1954); đặc biệt là giải phóng miền Nam khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực
dân mới, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và thống nhất đất nước
đều gắn liền hữu cơ, biện chứng với tư tưởng của Người về độc lập dân tộc,
thống nhất đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta, đất nước ta sau
này. Đánh giá tổng quát công lao to lớn của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt
Nam, dân tộc Việt Nam, Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Lễ truy
điệu Người ngày 9-9-1969 khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất
nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã
làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”7.
Hồ
Chí Minh là người đi tiên phong giải phóng các thuộc địa. Nhân kỷ niệm 100 năm
ngày sinh của Hồ Chí Minh tại Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng UNESCO đã tôn
vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.
2. Tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội để thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Tại
lễ truy điệu vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969, toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân cả nước đã xin thề: Giương cao mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết
chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người. Đem hết sức mình tiếp tục
phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà
Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho
đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.
Sau
khi chiến thắng đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng, đất nước độc lập,
thống nhất tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) đã khẳng định: Thắng
lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói
lọi của cách mạng Việt Nam nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh… Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc, thống nhất Tổ quốc, cho sự nghiệp của Đảng và của dân tộc, làm rạng rỡ non
sông đất nước ta, để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau những di sản bất
diệt.
Đại
hội IV, Đại hội V và các Nghị quyết Trung ương sau Đại hội IV, Đại hội V là quá
trình Đảng ta tìm tòi đường lối đổi mới để đưa đất nước tiến lên. Đến Đại hội
VI (12-1986), Đại hội mở đầu sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo là sự nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Kết quả là những sai lầm trong chủ quan, nóng vội, duy ý chí, cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, vi phạm qui luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và
trình độ của lực lượng sản xuất dần dần được khắc phục đất. Từ chỗ chúng ta
phải nhập khẩu lương thực sang xuất khẩu lượng thực ngày càng nhiều và đến nay
luôn ở trong tốp 3 nước dẫn đầu về xuất khẩu lương thực trên thế giới.
Đại
hội VII (6-1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tại Đại hội này
Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đã nêu ra 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
là phản ánh được tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tổng
kết 10 năm công cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội VIII (6-1996) của Đảng đã
nêu bài học đầu tiên là: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội VIII và 15 năm đổi mới (1986-2000). Tại Đại hội này, Đảng ta đã khẳng
định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đuờng xã hội chủ
nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài học số
một của đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII tiếp tục được Đại hội IX khẳng
định: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”8.
Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4-2006) tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại
hội IX và 20 năm đổi mới đất nước. Từ kết quả thực tiễn 20 năm đổi mới đất
nước, Đại hội X đã khẳng định bài học đầu tiên của đổi mới thành công là:
“Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”9.
Thắng
lợi của hơn 23 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thắng
lợi của tư tưởng đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ
Chí Minh, là thắng lợi của Đảng và nhân dân ta đã nắm vững và giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh, quyết tâm xây
dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngày
nay đất nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn, nhưng cũng đứng trước
nhiều cơ hội lớn để bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Bằng kinh nghiệm thực tiễn của hơn 23 năm đổi mới đất nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim
chỉ nam cho mọi hoạt động, xuất phát từ thực tiễn đất nước, được nhân dân ủng
hộ tin tưởng và làm theo, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng đất nước ta sẽ
tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
__________
Chú thích:
1.
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời sống của Hồ Chủ tịch,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.1994, tr.12.
2,
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.10,
tr.127, 128.
4. Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, H.2000,t.7, tr.113.
5. Hồ
Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.4.
6. Sđd,
t.12, tr.108.
7. Sđd, t.12,
tr.516.
8.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, tr.19.
9. Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính
trị quốc gia, H.2006, tr.19.
Nhận xét
Đăng nhận xét